(DNVN) - Hôm 6/4, Hội đồng quản trị FPT đã chính thức thông qua nghị quyết ngừng kế hoạch đầu tư vào EVN Telecom.
Trước đó, FPT dự kiến mua 60% cổ phần của EVN Telecom, nhưng sau đó, cuối tháng 1/2011, trong quyết định phê duyệt phương án cổ phần hóa EVN Telecom, Chính phủ chỉ cho phép EVN được bán 49% cổ phần của EVN Telecom.
Một số chuyên gia viễn thông nhận xét, với tỷ lệ sở hữu như vậy khó giúp cho FPT tạo ra sự thay đổi ở doanh nghiệp viễn thông điện lực, hơn nữa, có thể FPT sẽ phải gánh các khoản nợ hiện nay của EVN Telecom. Đây từng được coi là thương vụ được kỳ vọng giúp EVN Telecom có đối tác san sẻ việc phát triển mảng thông tin di động.
Theo báo Sài Gòn tiếp thị, việc mua cổ phần ở EVN Telecom sẽ giúp FPT đặt chân vào lĩnh vực kinh doanh viễn thông và có thể tận dụng thế mạnh, kinh nghiệm của một doanh nghiệp phát triển trong ngành tin học.
Có thể hiểu lý do phát triển sang ngành viễn thông của FPT khi họ đặt mục tiêu đầy tham vọng, đạt mức tăng trưởng lợi nhuận gấp đôi trong vòng năm năm tới. Tốc độ tăng trưởng của ngành tin học vào khoảng 30 – 40%.
Trả lời phỏng vấn trên váo Vnexpress, ông Trương Đình Anh, Tổng giám đốc FPT, cho biết, tập đoàn này tiến hành dự án đầu tư vào EVN Telecom theo 4 bước, gồm xin chủ trương cho phép từ Chính phủ, đặt cọc chứng minh năng lực tài chính, tiến hành thẩm định hiện trạng EVN Telecom (due diligence) và thương lượng hợp đồng đầu tư.
Sau khi tiến hành bước 3 (tiến hành thẩm định hiện trạng EVN Telecom), FPT thấy hiệu quả đầu tư vào dự án này không như mong đợi. Sáng 6/4, Hội đồng quản trị FPT đã biểu quyết thông qua nghị quyết rút khỏi dự án đầu tư vào EVN Telecom và Ban điều hành của FPT sẽ tiến hành sớm các thủ tục cần thiết để rút khỏi dự án này.
Ông Trương Đình Anh cho rằng, khi tiến hành đầu tư vào EVN Telecom, FPT mong muốn bổ sung thêm ngành nghề kinh doanh viễn thông di động mà FPT đang thiếu.
Rút lui khỏi EVN Telecom, FPT phải tiếp tục tìm kiếm cơ hội khác để tham gia vào thị trường viễn thông di động trên cả hai phương diện: Mua bán sáp nhập những doanh nghiệp viễn thông gặp khó khăn hoặc xin cấp phép xây dựng mạng di động thế hệ tiếp theo.
Theo phân tích của báo Đất Việt, trong kế hoạch đạt doanh thu gấp 4 lần vào năm 2014 của Tập đoàn FPT thì FPT Telecom phải tham gia thị trường di động và FPT Telecom đang thử nghiệm 4G. Mặc dù FPT Telecom đang đóng góp gần 30% lợi nhuận của Tập đoàn FPT, có hầu hết các giấy phép, nhưng thiếu giấy phép cung cấp dịch vụ điện thoại di động.
Tuy nhiên, để có tấm giấy phép này không phải đơn giản như phải tăng vốn điều lệ lên 2.000 tỷ, mà quan trọng nhất là phải được sự đồng ý của Thủ tướng Chính phủ. FPT và FPT Telecom đề nghị mua hơn 50% cổ phần của EVN Telecom. Nhưng với việc chỉ mua được 49% cổ phần, thì FPT Telecom vẫn phải xin giấy phép di động.
FPT xác định giấy phép di động và kho số mới có ý nghĩa. Mạng CDMA 450MH cung cấp dịch vụ chính E-com, còn E-mobile chỉ một số ít người trong ngành điện sử dụng. Tuy nhiên, E-com chỉ thích hợp với vùng sâu, vùng xa. Tài sản BTS CDMA và truyền dẫn Metro 1000 có rất ít giá trị vì với truyền dẫn 3G phải thay thiết bị truyền dẫn, còn 4G truyền dẫn là Ethernet.
Trong khi đó, EVN Telecom đã vay đầu tư 3.000 tỷ cho 3G, nhưng năm 2010 chỉ đạt doanh thu 5,6 tỷ/2.800 tỷ vì vùng phủ sóng hẹp và người dân không sử dụng dịch vụ viễn thông, trong đó CDMA chỉ chiếm hơn 50%, còn lại là doanh thu cho thuê cơ sở hạ tầng cột anten, cáp quang, cột điện. Năm 2008, doanh thu viễn thông của EVN Telecom là 3.800 tỷ, trong đó doanh thu dịch vụ CDMA chiếm 90%.
Đầu tư thiết bị thiết lập mạng CDMA, mạng 3G, điện thoại có dây, Internet... để phục vụ kinh doanh viễn thông công cộng của Tập đoàn EVN gấp nhiều lần đầu tư hạ tầng cáp quang, cột anten, nhà trạm. Phục vụ kinh doanh viễn thông công cộng phải huy động một số lớn nhân lực cũng như vật lực thiết bị đầu cuối, showroom...
Tuy nhiên, theo báo Đất Việt, một số lượng lớn cột anten của dự án 3G giai đoạn 2 quá thấp và nằm ở vị trí không thuận lợi. Theo tiêu chuẩn 3G, ở thành phố cột anten 36m và nông thôn 46m. Ngoài ra, chỉ một số ít vị trí cột anten của EVN thích hợp với quy hoạch và thiết kế BTS của các nhà mạng khác nên doanh thu cho thuê cơ sở hạ tầng vẫn tập trung chỉ là cho thuê cột điện.
Thêm vào đó, căn cứ vào tình trạng EVN Telecom hiện nay, chiến lược kinh doanh, chính sách giá cước, khuyến mãi do EVN quyết định; còn kinh doanh do điện lực địa phương thực hiện.
Doanh nhân EVN Telecom phản ánh, EVN Telecom đã thực hiện nhiều chương trình như phát triển khách hàng sinh viên, học sinh hoặc phát triển Internet tại các quán net nhưng khi giao khách hàng lại cho điện lực thì một thời gian ngắn, khách hàng đã cắt dịch vụ hoặc EVN Telecom đã cấp kênh cho nhiều khách hàng kho bạc, ngân hàng, cục thuế … nhưng các khách hàng này phản ánh khi sự cố xảy ra, không biết kêu ai.
Ngoài ra, theo Đất Việt, nhân viên viễn thông tại điện lực đã yếu kém, lại phải theo đuổi quá nhiều mục tiêu, nên tập trung vào dịch vụ này thì phải vứt bỏ dịch vụ khác.
Như vậy, báo này kết luận, việc FPT mua 49% cổ phần EVNTelecom thì không mấy có ý nghĩa đối với mục tiêu FPT là lá cờ đầu trong đề án đưa Việt Nam trở thành nước mạnh về CNTT và truyền thông, cũng như tham vọng lọt vào danh sách top 500 doanh nghiệp hàng đầu do Tạp chí Forbes bình chọn.
Phản hồi:» Họ tên: Đinh Thị Yến Nhi EVN nghiêm túc công tác viễn thông!
Tập đoàn EVN tiến hành kiểm tra công tác KDVT 6 tháng đầu năm 2011 và xây dựng cơ sở hạ tầng mạng 3G giai đoạn 2 tại một số Công ty Điện lực. Trong chuyến công tác này, lãnh đạo Tập đoàn EVN đã cách chức một số P.Giám đốc phụ trách công tác viễn thông tại Công ty Điện lực.
Triển khai xây dựng mạng 3G, Tập đoàn EVN đã thuê Huawei tư vấn và xây dựng mạng 3G cho EVN. Nhà thầu Huawei với kinh nghiệm tư vấn và lắp đặt mạng 3G cho Mobifone, lắp đặt mạng 3G cho Viettel và Vinaphone.
Nhà mạng Mobifone giai đoạn 1, trong 3 năm đầu tiên triển khai đầu tư 6000 nodeB 3G và mạng 3G roaming qua 2G. Giai đoạn 1, Mobifone phủ sóng 3G tại tất cả các thành phố, thị xã, thị trấn, thị tứ, đa phần Quốc lộ 1A, đa phần đường sắt Bắc-Nam, một phần đường tỉnh lộ.
Để tăng hiệu quả đầu tư, Mobifone tận dụng tối đa cơ sở hạ tầng cột ăng ten và nhà trạm hiện có. Nhà mạng Mobifone quy hoạch nodeB với trung tâm thương mại tại thành phố lớn bán kính nodeB 500m, khu dân cư dày đặc tại thành phố lớn bán kính nodeB 800m, khu dân cư thưa hơn tại thành phố lớn hoặc trung tâm thành phố thuộc tỉnh hoặc trung tâm thị xã bán kính nodeB 1000m, thị trấn bán kính nodeB 3000m, thị tứ bán kính nodeB 5000m. Bán kính nodeB phụ thuộc vào chiều cao lắp đặt sector, thành phố chiều cao sector 36m, thị trấn chiều cao sector 42m, nông thôn chiều cao sector 46m. Những vị trí có cột ăng ten thấp không đủ tiêu chuẩn chắp thêm cột ăng ten đảm bảo độ cao theo yêu cầu của tư vấn.
Hiện nay Mobifone là nhà mạng có số thuê bao 3G tốt nhất và Mobifone đã nâng cấp lên 3,5G. Tuy nhiên Mobifone xác nhận mạng 3G hiệu quả đầu tư thấp có thể vài năm nữa khi có thương mại điện tử mạng 3G mới thực sự lan toả và Mobifone xác định trong vòng 5 năm tới 2G vẫn là nồi cơm chính của nhà mạng này.
Mạng CDMA của EVN không roaming được qua mạng 3G và mạng 3G phải đầu tư độc lập với mạng CDMA 2G. Huawei đã tư vấn cho EVN xây dựng mạng 3G, với 10 000 nodeB sẽ phủ sóng tất cả các thành phố, thị xã, thị trấn, thị tứ, phần lớn Quốc lộ 1A, phần lớn đường sắt Bắc – Nam, một phần đường tỉnh lộ và phần lớn nông thôn vùng đồng bằng. Tuy nhiên các Điện lực lắp đặt nodeB khoảng cách xa hay gần không cần phân biệt nông thôn hay thành thị, tất cả các vị trí nodeB phụ thuộc vào vị trí đất mua được, vị trí đất người quen hoặc các vị trí theo yêu cầu của một số công ty ngoài. Lý do diện tích đất quá nhỏ nên chỉ lắp đặt được cột ăng ten 18m và bán kính nodeB tương ứng khoảng 300m.
Công tác quản lý hoạt động viễn thông tại Điện lực quá lỏng lẻo dẫn đến nhân viên thích làm gì cứ việc làm và đây là nguyên nhân làm lãng phí, thất thoát tài sản Nhà nước. Một số Điện lực lãnh đạo phụ trách viễn thông không những quản lý lỏng lẻo mà còn chỉ đạo cho cấp dưới cố ý làm sai.
Lãnh đạo Tập đoàn EVN đã nghiêm túc kiểm điểm và tiến hành kỹ luật cán bộ cố ý làm sai dẫn đến lãng phí và thất thoát tài sản Nhà nước.
» Họ tên: Văn Hưng Tại sao phải bán EVNTelecom!
Theo phản ánh của EVNTelecom một số Công ty Điện lực thu mua thiết bị đầu cuối bán cho Công ty trung gian và Công ty này tân trang bán lại cho các Công ty Điện lực. Trong khi một số lượng lớn máy mới của EVNTelecom nhập khẩu có giá 1,5 triệu VNĐ/máy nhưng các Công ty Điện lực này tháo linh kiện thay thế cho khách hàng.
EVNTelecom cũng phản ánh một số Công ty Điện lực tự thay đổi vị trí nodeB chưa có ý kiến của EVNTelecom. Bên cạnh đó các Công ty Điện lực này lắp đặt cột anten, nhà trạm, hệ thống tiếp đất không đúng tiêu chuẩn quy định.
Lãnh đạo Tập đoàn EVN đã tiến hành kiểm tra công tác viễn thông tại một số Công ty Điện lực. Lãnh đạo này cho biết công tác viễn thông tại Điện lực quá mơ hồ ông này đổ cho ông kia và không biết quy trách nhiệm cho ai.
Thiết bị đầu cuối khách hàng trả lại một số lượng lớn nhưng tháo linh kiện thiết bị đầu cuối mới. Nhân viên viễn thông tại Điện lực lại biện minh khách hàng đòi phải thay linh kiện mới.
Nhiều vị trí cột anten 3G nằm vị trí đất trũng nếu đứng ở trên đường cách đó 500m mà không thấy cột anten. Trong khi đó có vị trí thành phố cột anten cao 30m nhưng nông thôn cột anten cao 25m, có vị trí xây nhà trạm, có vị trí không xây nhà trạm.
Anh Điện lực đổ cho đơn vị tư vấn thiết kế không thiết kế đúng tiêu chuẩn và đơn vị tư vấn giám sát khi đơn vị thi công thi công không đúng tiêu chuẩn tại sao không cảnh báo cho chủ đầu tư.
Đơn vị tư vấn thì bảo thiết kế theo yêu cầu của Điện lực, các vị trí nodeB do Điện lực bàn giao và quá trình thẩm tra có lãnh đạo Trung tâm Viễn thông, các trưởng phòng Viễn thông.
Cán bộ viễn thông tại Điện lực thì bảo không biết về các tiêu chuẩn nodeB chỉ đi thẩm tra cho đúng thủ tục.
Đơn vị tư vấn giám sát thì bảo giám sát theo đúng thiết kế phê duyệt. Nhà thầu thi công thì phản ánh đã thi công theo đúng thiết kế phê duyệt và đã hoàn thành hơn nửa năm nhưng vẫn chưa nghiệm thanh quyết toán làm Nhà thầu khó khăn về tài chính đồng thời kéo dài thời gian bảo hành công trình.
Lãnh đạo này cho biết cán bộ phụ trách viễn thông tại Điện lực quá yếu kém nên nhân viên thích làm gì thì làm và đây là nguyên nhân đẩy EVNTelecom vào con đường phá sản. Do vậy chỉ khi FPT nắm cổ phần chi phối mới thay đổi công tác viễn thông tại Điện lực.
» Họ tên: Phùng Thiên Hà Đại gia Điện lực "sập bẩy"
Thông tin từ Trung tâm TVTK EVNTelecom, nhiều đại gia điện lực “sập bẩy” đầu tư đất cho thuê xây dựng cột ăng ten, nhà trạm BTS của dự án 3G EVNTelecom giai đoạn 2. Thiệt hại này không riêng chỉ “đại gia” mà còn thiệt hại tài sản Nhà nước.
Nhiều người trở thành đại gia buổi sáng thấc giấc có hàng trăm triệu nhờ chương trình xã hội hoá Mobile. Tuy nhiên đại gia phải đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cột ăng ten, nhà trạm, hệ thống tiếp đất đảm bảo đúng tiêu chuẩn và đúng vị trí nhà mạng đưa ra như cột ăng ten tại nông thôn cao 48m, thị trấn 42m, Rđ ≤ 1 Ω… Ngoài ra có nhiều nhà mạng có thể sử dụng chung cột ăng ten nhưng phòng máy và hệ thống tiếp đất khác nhau.
Trong dự án 3G giai đoạn 2 của EVNTelecom nhiều đại gia điện lực đầu tư đất có diện tích khoảng 50m2 ( KT: 7mx7m) để cho thuê xây dựng cột ăng ten 20m. Dự án 3G giai đoạn 2 bị phá sản do FPT rút vốn khỏi EVNTelecom và với tình hình tài chính bi đát đồng thời chưa lắp đặt thiết bị nên EVNTelecom không trả tiền thuê đất. Tuy nhiên Điện lực có thể thu hồi vốn đầu tư bằng phương án cho thuê hạ tầng cột ăng ten, nhà trạm BTS nhưng do cột ăng ten quá thấp và nằm giữa đồng hoặc chân núi hoặc vùng trũng nên không có ai thuê đã làm Điện lực rơi vào tình trạng khó khăn không thể thu hồi vốn đầu tư hạ tầng nên không có tiền trả tiền thuê đất. Chính sự quản lý lỏng lẻo đã làm thất thoát tài sản Nhà nước cũng như đẩy đại gia vào tình cảnh nợ nần.
Quản trị yếu kém cùng với công tác quản lý lỏng lẻo là nguyên nhân thua lỗ khủng của viễn thông điện lực.
» Họ tên: Nhan Thẩm Thuý Hằng FPT rút khỏi thương vụ EVNTelecom và tìm cơ hội S-fone!
Tập đoàn EVN và Tập đoàn FPT đã có buổi làm việc về mô hình sản xuất kinh doanh, định hướng phát triển EVNTelecom và ai sẽ chi phối hoạt động của EVNTelecom. Trong lĩnh vực kinh doanh viễn thông EVN gặp rất nhiều khó khăn do không được sự đồng thuận của xã hội và trong buổi gặp này FPT đã đưa ra mô hình hoạt động kể cả thay đổi thương hiệu sử dụng thương hiệu của FPT. Tuy nhiên hai bên vẫn chưa đi đến thống nhất.
Chính phủ đã chỉ đạo EVN tập trung vào việc sản xuất kinh doanh điện và phê duyệt phương án cổ phần hoá EVNTelecom bán cho nhà đầu tư chiến lược FPT 49% vốn điều lệ. Hiện nay vướng mắc lớn nhất cổ phần hoá doanh nghiệp viễn thông là doanh nghiệp nào nhà nước sẽ nắm cổ phần chi phối. Doanh nghiệp FPTTelecom nhà nước sở hữu 51% nhưng FPT vẫn chi phối hoạt động và doanh nghiệp EVNTelecom có thể đi theo hướng này hoặc FPT nắm trên 51% trong đó vốn nhà nước trong doanh nghiệp EVNTelecom vẫn đảm bảo 51%. Tuy nhiên FPT chi phối hoạt động phải thay đổi mô hình sản xuất kinh doanh và nhân viên EVNTelecom phải trực tiếp sản xuất kinh doanh. Mô hình hoạt động hiện nay của EVNTelecom bộc lộ nhiều yếu điểm với bộ máy kinh doanh là nguời điện lực và chỉ nghe chỉ đạo của EVN. Chiến lược kinh doanh ra sao, cung cấp dịch vụ nào, đầu tư thiết bị nào phải do đơn vị chuyên môn EVNTelecom đưa ra và điện lực góp ý chứ không phải như hiện nay điện lực tổ chức hội thảo cung cấp dịch vụ, đầu tư thiết bị nhưng đi không đúng hướng đã dẫn đến đầu tư thiết bị lạc hậu không cạnh tranh được làm mất niềm tin của khách hàng. Bên cạnh đó tận dụng nhân viên điện chuyển qua làm công tác viễn thông và cũng như cán bộ điện muốn có vị trí chuyển qua công tác viễn thông là một sai lầm. Anh em EVNTelecom bảo đi ra thấy cột anten thấp nằm vị trí không thuận lợi là của điện lực và đầu tư không hợp lý chi phí sẽ tăng lên gấp nhiều lần. Mặt khác thị trường di động phải đầu tư lớn mới cạnh tranh được nhưng muốn huy động vốn tốt nhất là tham gia thị trường chứng khoán và điều đầu tiên để tham gia thị trường này tài chính phải minh bạch. Ngoài ra ảnh hưởng hoạt động sản xuất nhân dân do thiếu điện dẫn đến nhân viên điện lực gặp rất nhiều khó khăn trong chăm sóc, phát triển khách hàng. Như vậy đầu tiên phải thay đổi mô hình hoạt động sản xuất của EVNTelecom.
Trong mô hình mới EVNTelecom thành lập Chi nhánh tại các tỉnh để trực tiếp hoạt động sản xuất kinh doanh.Chi nhánh chịu mọi nhiệm vụ hoạt động trên địa bàn như quản lý đại lý, phát triển đại lý, quảng cáo, thuê chạy máy phát BTS khi mất điện lưới, hợp đồng thuê tài sản với điện lực địa phương, vận hành và xử lý sự cố, quan hệ với địa phương và chủ trì cũng như phối hợp với các đơn vị liên quan trong EVNTelecom quy hoạch BTS, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng. Cải cách EVNTelecom bắt đầu bố trí sắp xếp lại nhân lực và thực hiện đào tạo, đào thải nguồn nhân lực một cách phù hợp theo phương châm “nước muốn trong phải chảy”. Đối với Chi nhánh tỉnh chỉ tuyển một số cán bộ chủ chốt và tận dụng đội ngũ cộng tác viên sinh viên, học sinh, cán bộ làm bán thời gian tại phường xã sẽ ký hợp đồng ngắn hạn hưởng lương theo sản phẩm. Hiện nay FPT có rất nhiều lợi thế thương hiệu và thương hiệu FPT thân thiện, gần gủi và đang được đại chúng chấp nhận. FPT chi phối hoạt động EVNTelecom với chiến lược one FPT và chiến lược hướng tới đại chúng sẽ một lợi thế thế cạnh tranh bên cạnh xây dựng mô hình mới tạo ra năng lực cạnh tranh.
Trước khi mua cổ phần EVNTelecom thì FPT có ý định mua cổ phần S-fone. S-fone có lợi thế băng tần 800MHz thích hợp triển khai dịch vụ 3G hay 4G trên băng tần này. Chính phủ cho phép nhà mạng không trúng tuyển 3G có thể liên kết với nhà mạng trúng tuyển triển khai 3G hoặc triển khai 3G trên băng tần dược cấp phép. Tại Châu âu triển khai dịch vụ 3G trên băng tần 800MHz đầu tư hạ tầng rẻ 70% và đối với Việt Nam địa hình có nhiều núi non với trung du chiếm tỉ lệ diện tích khá lớn nên đầu tư hạ tầng chi phí rẻ 50%. BTS 3G có dung lượng lớn hơn nhiều GSM 2G nhưng do triển khai trên băng tần 2000 MHz nên không tận dụng được và Viettel đang đề nghị được cấp thêm băng tần 800Hz để triển khai 3G tại vùng nông thôn giảm chi phí đầu tư bên cạnh cải thiện vùng phủ sóng vùng thành phố. Ngoài ra FPTTelecom đang có kế hoạch xây dựng đường trục Bắc-Nam thì S-fone có thể sử dụng mạng lõi của FPTTelecom và nội hạt sẽ sử dụng mạng truyền dẫn backhaul để giảm chi phí. Bên cạnh đó mô hình của S-fone tương đối hoàn thiện vừa gọn nhẹ vừa chuyên nghiệp và dể dàng mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh khi triển khai 3G. Để hài hoà lợi ích của hai doanh nghiệp S-fone tập trung vào mảng dịch vụ di động băng thông rộng còn FPTTelecom tập trung vào mảng Internet, IPTV, leasline và nhất là Internet băng thông rộng.
Như vậy FPT có nhiều lựa chọn M&A để tham gia thị trường di động và đây là cơ hội để FPT đạt tăng trưởng 50% sớm lọt vào danh sách tốp 500 doanh nghiệp hàng đầu trong Forbes Global 2000 của Tạp chí Forbes bình chọn.
Các tin khác
Các khoảnh khắc Chelsea nối dài chiến thắng tại Stamford Bridge
'Tiền khôn' và quyền lực của Việt Nam
Ngập ngừng cứu bất động sản
Thương vụ thâu tóm Sacombank: Còn nhiều bất ngờ!
Bản lĩnh doanh nhân tương lai
Những điểm nhấn trong sự nghiệp lừng lẫy của Paul Scholes
Chân dung những tỷ phú đi lên từ tay trắng
Ghé thăm xưởng sản xuất siêu phẩm Aston Martin One-77