|
Thứ 3, 22-05-2012
|
||||
|
||||
|
Vì sao thị trường tín dụng đen có đất sống? 22:14, 25/10/2011 Một bên là người gửi tiền không am hiểu quan hệ tín dụng, không hiểu hoạt động của ngành ngân hàng, lại được khuyến khích bởi lợi ích trước mắt, lãi suất cao và một bên là nhu cầu vốn lớn nên hình thành thị trường vốn “chợ đen” rất nguy hiểm. Đó cũng là ý kiến của ông Lê Xuân Nghĩa, khi trao đổi với PV về tình trạng vỡ nợ liên tiếp xảy ra gần đây.
Theo ông Nghĩa, việc liên tiếp xảy ra vỡ nợ với con số hàng trăm tỷ đồng vì vài năm gần đây các doanh nghiệp rất khó tiếp cận nguồn vốn từ các ngân hàng. Gần đây, không chỉ doanh nghiệp bất động sản, mà cả doanh nghiệp sản xuất bình thường, thậm chí ngành dệt may cũng vay tiền “chợ đen” để trả lương cho công nhân vì họ không thể tiếp cận nguồn vốn của ngân hàng. Muốn tiếp cận nguồn vốn của ngân hàng phải có tài sản đảm bảo, trong khi phần lớn tài sản đó không còn, họ đành huy động vốn “chợ đen” trả lương cho công nhân, điều đó chứng tỏ sản xuất kinh doanh đang bị đình trệ ghê gớm. “Theo tôi, việc liên tiếp xảy ra vỡ nợ xuất hiện một mặt từ việc khan hiếm vốn của ngân hàng, mặt khác là lãi suất quá cao và nhu cầu vốn từ những lĩnh vực kinh doanh thông thường đã “khuyến khích” thị trường vốn tín dụng “đen” phát triển. Thêm vào đó, một bên là người gửi tiền không am hiểu quan hệ tín dụng, không am hiểu hoạt động của ngành ngân hàng, lại được khuyến khích bởi lợi ích trước mắt, lãi suất cao và một bên là nhu cầu vốn lớn nên hình thành thị trường vốn “chợ đen” rất nguy hiểm”, ông Nghĩa nhận định. Trả lời câu hỏi, vì sao các vụ vỡ tín dụng đen lại cùng xuất hiện trong thời điểm này, mà không phải trước đó? Ông Nghĩa cho rằng, thật ra, bắt đầu từ nằm 2011, việc thắt chặt tín dụng mới quyết liệt và kéo dài. Hơn nữa, các nguồn lực tự có của các doanh nghiệp cũng cạn kiệt dần so với những năm 2008, 2009 nên việc vỡ nợ tín dụng “đen” bùng nổ vào thời điểm này là đương nhiên. Cũng theo ông Nghĩa, các vụ vỡ nợ vừa qua chứng tỏ vốn trong dân vẫn còn rất lớn. Trong khi đó, nguồn vốn này lại không được gửi ngân hàng, tín dụng hoặc đầu tư vào những kênh khác mà độ rủi ro thấp hơn. Đó được coi là một trong những nhược điểm của hệ thống ngân hàng Việt Nam, họ không tiếp cận được nguồn tiền để dành trong dân. Hiện, tỷ lệ dân chúng để dành tiền vào ngân hàng rất thấp so với thế giới. Ở các nước, tỷ lệ này có thể lên tới 80 - 90%, trong khi ở Việt Nam chỉ đạt khoảng 40%. Đây cũng là nhiệm vụ để ngành ngân hàng trong việc quảng bá, tạo ra một kênh huy động vốn rộng rãi hơn, dễ dàng hơn cho dân chúng, kể cả khi gửi và khi rút với mức lãi suất hợp lý. Việc để xảy ra các vụ vỡ nợ như vậy, ngoài sự nhẹ dạ cả tin của người cho vay, theo ông Nghĩa còn một nguyên nhân khác: đó là lỗi rất lớn của hệ thống. “Cái này được Tổ chức Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JAICA) khảo sát từ lâu và khẳng định tỷ lệ để dành vào ngân hàng của dân cư Việt Nam rất thấp so với nhiều nước, tỷ lệ dân chúng có tài khoản mở tại ngân hàng cũng thấp. Ở các nước, dường như ai cũng có tài khoản ngân hàng, do vậy, tiền nhàn rỗi đều nằm ở ngân hàng. Ở nước ta thì phần lớn dân chúng có thu nhập thấp, thậm chí cả những công chức, viên chức mấy ai có tài khoản tại ngân hàng, chỉ có tài khoản để nhận lương hàng tháng và khi có lương cũng đều rút hết”, ông Nghĩa nói.
Các tin khác
• Bộ Tài chính đề xuất 25.000 tỷ đồng cứu doanh nghiệp (03/05/2012)
• Tín dụng thụt lùi, ngân hàng gặp khó (02/05/2012)
• Đại gia và 'ẩn số' nợ quá hạn (10/04/2012)
• Việt Nam đồng đang đợi thời cơ (20/03/2012)
• “Sai lầm” hay “mưu đồ” khi chọn nhóm BĐS dẫn dắt thay thế (12/03/2012)
• Thương vụ thâu tóm Sacombank: Còn nhiều bất ngờ! (22/02/2012)
• Vàng lại được xem là “thiên đường trú ẩn” (05/01/2012)
• Giá vàng áp sát 44 triệu đồng/lượng, USD tăng mạnh (04/01/2012)
• Năm mới nói chuyện cũ: Khó giảm lãi suất (03/01/2012)
• Nhà băng Việt: Quota, 'kẽ hở' và sự minh bạch (30/12/2011)
|
||||
| Mạng xã hội mua bán © Copyright Doanh Nghiệp Việt Nam | ||||